Những ngày xa xưa, buổi đầu của biến cố Tin Mừng được rao giảng. Chúa Giêsu đã đích thân tuyển chọn 12 người để cộng tác với Ngài trong việc rao truyền Tin Mừng cứu độ. Tin Mừng ghi:
“Trong những ngày ấy, Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện, và suốt đêm, Người cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Sáng ngày, Người gọi các môn đệ và chọn mười hai vị mà Người gọi là Tông đồ: Ðó là Simon, mà Người đặt tên là Phêrô, và em ông là Anrê, Giacôbê và Gioan, Philipphê và Bartôlômêô, Matthêu và Tôma, Giacôbê con ông Alphê và Simon cũng gọi là Nhiệt Thành, Giuđa con ông Giacôbê và Giuđa Iscariốt là kẻ phản bội.” (Luca 6:12-16)
Ngoại trừ một vài Tông Đồ được nhắc đến về số phận và cái chết của họ trong Phúc Âm như Phêrô, Gioan, và cả Giuđa, số còn lại ít ai được biết tới. Theo Thánh Kinh thì sau khi Chúa chịu chết, sống lại và về trời, đặc biệt, sau ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống thì đời sống của các Tông Đồ đã thay đổi hoàn toàn (Tông Đồ Công Vụ 1:4). Các ông không còn rụt rè, nhút nhát, sợ sệt, nhưng đã mạnh dạn, can đảm ra đi để làm chứng nhân cho Tin Mừng. Lịch sử của Giáo Hội đã khai mở, nhưng ngoài những gì được ghi trong các Phúc Âm, trong Tông Đồ Công Vụ, trong các Thánh Thư, đặc biệt là những thư của Phaolô, chúng ta biết rất ít về số phận các tông đồ, mặc dù chúng ta vẫn tin tưởng rằng các ông đã đi rất xa đến tận cùng trái đất để rao giảng về Chúa Giêsu. Các ông đã đau khổ vì đức tin, và đã bị chết một cách đau đớn để trở thành những chứng nhân sống động cho Tin Mừng mà các ông rao giảng.
Trong thời gian Giáo Hội sơ khai, truyền thống được dựa trên phần lớn những chứng từ, các ghi chú lịch sử, các truyền thuyết Kytô Giáo cổ xưa và các tài liệu lịch sử thứ cấp thay vì các văn bản gốc từ thế kỷ thứ nhất.
13 Tông Đồ gồm Matthias thay thế cho Giuđa, Phaolô, Tông đồ dân ngoại do Chúa Giêsu chọn trên đường đi Damas, đều được cho là đã hy sinh mạng sống mình vì danh Chúa Giêsu trong khi rao truyền danh thánh ấy cho muôn dân.
Về cái chết của các ngài, ngoại trừ Giuđa Iscariot, đã tự tử sau khi phản bội và bán Chúa Giêsu, Gioan được cho là đã qua đời cách tự nhiên khi đã già. Các Tông Đồ khác kể cả Phaolô điều đã tử đạo tại những nơi khác nhau và bằng những hình thức khác nhau hàng thập niên sau, hầu hết trong thập niên 60 AD và các thập niên tiếp sau đó:
1.Phêrô: Chịu đóng đanh ngược tại Rôma khoảng giữa năm 64-68 AD.
Simon hay Phêrô sinh tại Bethsaida thuộc Galilee. Ông xuất thân là một ngư phủ chuyên nghiệp. Cha của ông tên là Jonah hay Jonas cũng là ngư phủ. Ông có người em là Andrê cũng là Tông Đồ trong nhóm 12 được Chúa Giêsu tuyển chọn. Vào thế kỷ thứ 5, căn nhà ông ở tại Capernaum, một thánh đường đã được xây trùm trên đó.
Sau 3 năm theo Thầy, và sau khi Chúa Giêsu về trời, ông khởi đầu sứ vụ bằng bài giảng ngay trong ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống (Tông Đồ Công Vụ, Chương 2). Một bài giảng gây tiếng vang, và đã thu hút 3000 người xin chịu phép Rửa ngay ngày hôm đó. Ông chuyên chú vào người Do Thái, khác với Phaolô nhắm tới dân ngoại. Sau nhiều lần bị giam giữ tại Giêrusalem, ông đã tới Rôma, ở đó cùng với Máccô thư ký của ông đã biên Phúc Âm thứ nhất theo lời giảng của ông. Phần cá nhân, ông cũng viết 2 thư xuất hiện trong Tân Ước.
Ông được Chúa Giêsu đổi tên là Cephas (Phêrô) do lòng nhiệt thành của ông. Đó cũng là tên mà Chúa Giêsu nhắm tới việc xây dựng Giáo Hội của Ngài trên ông. “Con là Cephas nghĩa là đá, trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội Thầy” (Mátthêu 16:18). Irenaeus (c.180A.D) dựa theo truyền thống, cho rằng Phêrô và Phaolô đã xây dựng Giáo Hội ở Rôma. Ông là vị Giáo Hoàng tiên khởi của Hội Thánh Công Giáo.
Theo Phaolô ghi lại trong thư gửi giáo đoàn Galatians, thì cũng đã một lần Phêrô viếng thăm Antioch (Galatians 2:11) và có thể ở Corinth (1 Corinthians1:12). Trong Tông Đồ Công Vụ cũng thuật lại, ông đã giảng đạo cho Cornelius, người đầu tiên được ông hướng dẫn mà không phải Do Thái ở Caesarea (Tông Đồ Công Vụ 10).
Theo truyền thuyết, hoàng đế Rôma là Nero đã ra lệnh giết Phêrô năm 66 AD, sau 33 năm Chúa về trời. Ông bị đóng đinh ngược và được an táng dưới hầm vương cung thánh đường Thánh Phêrô hiện nay ở Rôma.
2.Andrê: Bị đóng đanh vào thập giá hình chữ X ở Hy Lạp khoảng năm 60 AD.
Andrê - Ngư phủ từ Galilee, em của Phêrô. Nguyên thủy ông là môn đệ của Gioan Tẩy Giả (Máccô 1:16-18). Sau khi cùng anh là Phêrô bỏ nghề chài lưới theo Chúa, ông thuộc số những tông đồ đầu tiên của Ngài.
Ông giảng đạo cho người Scythians và Thracians. Bị đóng đinh và an táng tại Patrae (Hy Lạp). Theo Hippolytus, Andrê giảng đạo tại Georgia/Bulgaria ngày nay, phần đất nối liền với Hắc Hải gần Thổ Nhĩ Kỳ. Eusebius trong lịch sử của Giáo Hội đã dùng tài liệu của Origen để xác định rằng Andrê giảng đạo tại Scythia. Trong Biên Niên Sử của Nestor thêm rằng, ông giảng đạo dọc theo Hắc Hải (Black Sea) và sông Dnieper tới mãi tận Kiev, và từ đó di chuyển đến Novgorod. Do đó, ông trở thành Bổn Mạng của nước Ukraine, Romania và Nga. Theo tương truyền, ông lập tòa ở Byzantium (Constantinople và Istanbul) năm 38 AD, mà sau này trở thành tòa thượng phụ Constantinople, và đã đặt Stachys là Giám Mục. Cả Andrê và thánh Stachys đều được coi là quan thầy của Tòa Thượng Phụ.
Andrê được miêu tả là bị đóng đinh, treo trên một cây Olive ở Patras (Patrae) thuộc Achaia (Achaea), Hy Lạp và được an táng tại đây. Những tài liệu trước đó trong Công Vụ của Andrê (Acts of Andrew) như Gregory ở Tours đã cho rằng ông bị trói chứ không phải bị đóng bằng đinh vào một loại thập giá gọi là thập giá Latin có hình chữ X.
Cái chết của ông, theo nhà sử học Dorman Newman thuộc thế kỷ 15, khi ở Patras thuộc đông Hy Lạp năm 69 AD, vị Tổng Đốc Rôma là Aegeates ở đây đã tranh luận với ông về tôn giáo. Aegeates đã cố gắng thuyết phục Andrê từ bỏ Kytô giáo để tránh bị tra tấn và xử hình. Cuối cùng ông bị đánh đòn và sau đó bị đóng đinh. Ông đã sống thoi thóp trên thập giá 2 ngày, và không ngừng rao giảng Tin Mừng cho những người qua lại. Tại Hy Lạp gần Ethiopia vẫn còn dấu tích mộ của ông.
Ngoài ra, Scots cũng cho rằng Andrê cũng đã đến giảng đạo tại Picts (vì vậy họ dùng cây thập giá của Thánh Andrê trên quốc kỳ của họ).
3.Giacôbê Cả: Con của ông Zebedee người làng Bethsaida và là anh của Gioan. Ông là những Tông Đồ đầu tiên bị tử đạo khoảng năm 44 AD.
Ông và em ông là anh em họ với Chúa Giêsu. Theo truyền thống, ông và Gioan em ông là những anh em họ của Chúa Giêsu thông qua người mẹ là bà Salômê; người được cho là chị em gái của Đức Maria, mẹ của Chúa Giêsu.
Để phân biệt với Giacôbê con ông Alphaeus, ông được gọi là Giacôbê Cả. Tên của ông không rời xa tên em ông là Gioan trong Máccô 1:19-20; Mátthêu 4:21, và Luca 5:1-11.
Là ngư phủ sinh sống quanh Bethsaida, Capernaum và Giêrusalem. Ông cùng em đã bỏ chài lưới đi theo Chúa Giêsu khi Người gọi hai ông, lúc hai ông đang vá lưới dưới thuyền với cha mình. Ông và em ông được Chúa Giêsu đặt cho biệt danh là con sấm sét.
Rao giảng tại Giuđêa và bị quận vương Herod Agrippa I chém đầu và được an táng ở Giuđêa (Tông Đồ Công Vụ 12:2). Hippolytus xác nhận cái chết của Ông. Eusebius đã diễn tả chi tiết hơn. Đầu tiên là Stêphanô bị ném đá, rồi tiếp đến là Giacôbê bị chém đầu.
Lý do ông bị chết vì Herod Agrippa I, quận vương mới của Giuđêa muốn chứng tỏ mình trung thành với người Rôma bằng cách bắt bớ những thủ lãnh các tôn giáo. Sau khi Giacôbê bị bắt và bị dẫn đi hành hình, người tố cáo ẩn danh ông đã xúc động do lòng can đảm của ông, nên không những đã xin theo đạo, mà còn xin được chết chung cùng với Giacôbê. Đề nghị đã được chấp thuận và cả hai đã bị chém đầu.
Cái chết của ông đã được ghi lại trong Tông Đồ Công Vụ 12:2.
4.Gioan: Vị Tông Đồ duy nhất theo truyền thống tin rằng ông đã chết tự nhiên ở tuổi cao niên khoảng năm 98-100 AD.
Gioan - Em của Giacôbê và cũng là con của ông Zebedee. Ông và anh mình được Chúa Giêsu đặt cho biệt danh “Boanerges”, có nghĩa là con Sấm Sét, khi hai ông xin Chúa cho lửa bởi trời xuống thiêu hủy dân làng Samaritan vì đã không đón tiếp Ngài (Luca 9:51-54) và tham vọng do người mẹ của hai ông muốn sắp xếp chỗ ngồi bên phải, bên trái Chúa (Máccô 10:35-37). Nhưng ông cũng là người được Chúa Giêsu yêu cho dựa đầu vào ngực trong bữa tiệc ly, và trối Đức Mẹ lại trước khi Ngài tắt thở trên thập giá: “Này là mẹ con” (Gioan 19:24-27).
Theo Hippolytus, trong cuộc bách hại của Domitian và giữa năm 90, ông bị lưu đày qua đảo Patmos. Bị lưu đày tại đảo Patmos, nhưng ông qua đời ở tuổi già tại Ephesus khoảng 100 AD. Ông viết Phúc Âm và viết 3 lá thơ. Cũng trong thời gian lưu đày ở đảo Patmos, ông đã viết sách Khải Huyền là cuốn sau cùng chấm dứt bộ Tân Ước.
Ông là đầu của giáo hội tại Ephesus, và được diễm phúc phụng dưỡng Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu. Theo truyền thống Latin trước đó, ông được cho là đã thoát khỏi vạc dầu sôi sau khi bị vứt vào đó tại Rôma.
5.Philipphê: Bị đóng đanh tại Hierapolis, Thổ Nhĩ Kỳ.
Philip người Bethsaida là một trong số những môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu. Rao giảng ở Phrygia, Thổ Nhĩ Kỳ. Ông bị đánh đòn, bỏ vào ngục và bị ném đá năm 80 AD tại Hierapolis, Thổ Nhĩ Kỳ. Cũng theo truyền thống, ông bị đóng đanh ngược.
Philip là người thứ 5 trong số 12 tông đồ được Chúa Giêsu tuyển chọn (Luca 6:12-16). Liền sau khi trở thành môn đệ Chúa, ông đã đi giới thiệu Ngài cho Nathanael (Bartholomew). Khi khi thấy Nathanael ngần ngại, nghi ngờ, ông đã bảo bạn mình: “Hãy tới mà xem” (Gioan 1:46). Và Nathanael cũng được Chúa tuyển chọn làm Tông Đồ. Nhưng ông được Phúc Âm nhắc đến nhiều ở biến cố Chúa làm phép lạ bánh hóa nhiều, khi Ngài muốn thử xem ông phải làm gì (Gioan 6:5-6). Phúc Âm cũng nói đến việc những người Hy Lạp Do Thái trong dịp lễ Vượt Qua tại Giêrusalem nhờ ông giới thiệu họ với Chúa Giêsu (Gioan 12:20-22). Nhưng xúc động nhất là câu hỏi của ông trong Bữa Tiệc Ly, khi đó ông xin Chúa Giêsu cho được thấy Chúa Cha (Gioan 14:8-11).
Sau khi Chúa về trời Tông Đồ Công Vụ ghi, ông đã tới Samaria ở đó rao giảng Tin Mừng và thực hiện những phép lạ (Tông Đồ Công Vụ 8:4-6). Ông đã cải đạo được cho Simon phù thủy (Tông Đồ Công Vụ 8:9-13). Trong khi nhận được lời truyền từ thiên thần, ông đã gặp một người Ethiopia tại Gaza, một vị hoạn quan quyền thế dưới quyền hoàng hậu Candace, và đã rửa tội cho ông này (Tông Đồ Công Vụ 8:26-39). Sau cùng ông sống tại Caesarea (Tông Đồ Công Vụ 21:8), cũng theo Tông Đồ Công Vụ thì Philip có 4 người con gái sống đời đồng trinh và đã được ơn nói tiên tri (Tông Đồ Công Vụ 21:9).
6.Batôlômêô (Nathaniel): Bị lột da và chém đầu tại Armenia, khoảng năm 68 AD.
Bathôlômêô - Ông là người từ Cana, Galilee với tên gọi Nathanael. Trong Lịch Sử Hội Thánh của Eusebius, sau khi Chúa về trời, Barthôlômêô sang truyền giáo tại Ấn Độ. Cũng có một truyền thuyết khác nói rằng ông đã truyền rao Tin Mừng tại Ethiopia, Mesopotania, Parthia, và Lycaonia. Nhưng phần đông vẫn cho rằng ông giảng đạo tại Ấn Độ, và sau này đến Greater Armenia.
Theo truyền tụng đại chúng của người Armenians, Tông Đồ Giuđa (Jude) cũng còn gọi là Thaddaeus, là người đầu tiên đến truyền giảng Tin Mừng trong vùng này từ năm 43-66 AD. Năm 60 AD, Barthôlômêô đã đến cùng truyền đạo với ông. Khi đến nơi, ông đã mang theo Phúc Âm của Mátthêu, và đã dịch Phúc Âm này sang tiếng địa phương. Barthôlômêô tử đạo tại Albanopolis, Armenia năm 68 AD.
Nhiều tài liệu khác nhau về cái chết của ông, một số cho rằng ông bị chém đầu. Một số khác thì ông bị lột da sống và chịu đóng đinh ngược đầu do lệnh truyền của Astyages. Lý do vì ông đã cải đạo Polymius em của Astyages, vua xứ Armenia.
7.Mátthêu: Tử đạo tại Ethiopia giữa năm 68 - 74 AD.
Mátthêu hay cũng còn gọi là Levi, con của Alphaeus, vì thế ông bị cho là anh em với Giacôbê Trẻ. Trước khi được Chúa gọi, ông là người thu thuế ở Capernaum. Ông viết Phúc Âm cho người Do Thái. Với mục đích viết Phúc Âm cho người Do Thái, nên Phúc Âm của ông được viết bằng tiếng Do Thái. Ông chết tại Hierees, một thành của Parthia (Iran). Eusebius coi ông là giám mục Papias của Hierapolis, trước năm 110 A.D.
Theo truyền thống Công Giáo và Chính Thống Giáo, Thánh Mátthêu đã bị sát hại bằng gươm ngay tại bàn thờ. Một vị vua tên là Hirtacus, trong cơn thịnh nộ, đã ra lệnh cho lính canh tấn công ông sau khi vị tông đồ này lên tiếng quở trách ông ta. Một truyền thuyết cổ khác kể rằng ngài đã bị ghim chặt xuống sàn và thiêu sống tại một vùng đất có tên là Partha.
Cũng theo một truyền thuyết, ông giảng đạo và bị tử đạo tại Persia và Ethiopia. Ông bị đâm sau lưng bằng lưỡi đòng do một tên hành quyết được vua Hirtacus cử tới bởi vì ông đã phê bình đời sống luân lý của vua.
8.Thôma: Bị rượt đuổi và đâm chết bằng đòng ở Ấn Độ.
Thôma tử đạo bằng 4 mũi đòng đâm vào người. Ông đã bị 4 người lính dùng giáo đâm chết tại Mylapore, Ấn Độ ngày 21 tháng 12 năm 72 AD.
Thomas cũng gọi là Didymus. Có thể là một ngư phủ, thường được nhớ như Thomas đa nghi. Trong lúc Chúa Giêsu nói với các tông đồ trong Bữa Tiệc Ly, ông đã thẳng thắn hỏi Chúa: “Lạy Chúa, chúng con không biết Chúa đi đâu, thì làm sao biết được đường” (Gioan 14:5). Cũng trong Tin Mừng Gioan (20:25), khi nghe các Tông Đồ nói đã nhìn thấy Chúa sống lại, ông đã thẳng thừng từ chối, và cho rằng chỉ khi nào ông nhìn những vết đinh nơi tay Chúa, và thọc tay vào cạnh sườn Ngài, ông mới tin. Nhưng Chúa đã thỏa mãn sự nghi ngờ của ông và qua đó, chúc lành cho mọi người sau này không được diễm phúc nhìn thấy Chúa như ông nhưng vẫn tin: “Tôma vì con đã thấy thầy và đã tin. Nhưng phúc cho những ai không thấy mà tin” (Gioan 20:29). Cũng do thái độ hoài nghi của ông mà sau này mới được biết về cái chết và việc Đức Mẹ về trời cả hồn lẫn xác.
Theo Hippolytus, Thomas là một nhà rao giảng nhiệt thành. Ông được biết là đã rao giảng Phúc Âm cho người Parthians (Iran), Medes (Iran), Persians (Iran), Hyrcanians (Iran), Bactrians (Afghanistan), và Margians. Ông có lẽ năng động nhất ở đông Syria. Truyền thống cho là ông đã giảng dạy mãi xa tận Ấn Độ, mà những Kitô hữu Marthoma xa xưa đón nhận ông như đấng sáng lập, Theo sử sách ghi lại, Thôma tử đạo tại Ấn Độ để lại một cộng đoàn ở đó cho đến khi người Bồ Đào Nha tới.
9.Giacôbê Hậu: Bị xô xuống khỏi đền thờ, ném đá và đánh bằng gậy cho đến chết tại Giêrusalem khoảng năm 62 AD.
Giacôbê con của Alphaeus chứ không phải là con của Zebedee, và do đó, ông cũng không phải là anh em với Gioan. Tên của ông được xuất hiện trong Mátthêu 10:1-3, Máccô 3:14-19, Luca 6:13-16, và Tông Đồ Công Vụ 1:13. Mẹ của ông là Maria, một trong những phụ nữ ra viếng mộ Chúa Giêsu và thấy mộ trống trong buổi sáng Phục Sinh. Ông được gọi là Giacôbê Trẻ hay Giacôbê Hậu để phân biệt với Giacôbê Tiền hay Giacôbê Cả là anh của Gioan.
Cũng vì cha ông là Alphaeus, nên ông thường bị cho là anh em với Matthêu.
Sau khi Chúa về trời, ông truyền rao Tin Mừng trong phạm vy Giêrusalem. Ông là một trong những vị Tông Đồ sống lâu nhất, có lẽ còn hơn cả Gioan. Ông qua đời năm 96 tuổi. Trước hết bị đánh đòn, và bị ném đá. Sau đó bị đánh vào đầu bằng một cây gậy. Tuy nhiên, theo Hippolytus, thì ông bị người Do Thái ném đá tại Giêrusalem. Và ông được mai táng bên cạnh đền thờ năm 62 AD.
10.Simon Nhiệt Thành: Bị cưa đôi ở Persia/Syria năm 65 AD.
Simon Nhiệt Thành - Giám mục Giêrusalem sau Giacôbê. Ông sinh năm vào khoảng năm 7 BC và tử đạo năm 65 AD. Theo truyền thống, ông là người trẻ nhất được Chúa Giêsu chọn làm Tông Đồ lúc mới 28 tuổi.
Ông đến từ Cana và vì thế cũng được gọi là Simon người Canaanite, hoặc Simon Nhiệt Thành (nhưng không thuộc những người Do Thái nhiệt thành chống lại người Rôma). Ông là con của Clopas. Theo Hippolytus, ông là Giám Mục thứ hai của Giêrusalem kế vị Giacôbê. Thánh Demetrius thành Rostov đã xác nhận ông là Giám Mục thứ hai của Giêrusalem.
Ông qua đời hưởng thọ 72 tuổi. Ông được an táng tại Giêrusalem. Theo tài liệu thì ông đã bị đóng đinh như vị Giám Mục của Giêrusalem sau khi giảng Phúc Âm tại Samaria. Một tài liệu khác lại cho rằng khi truyền giáo tại Persia ông đã từ chối không dâng lễ vật cho thần mặt trời và đã bị giết. Cũng có tài liệu cho rằng ông bị cưa đôi khi ở Persia.
Nhưng các tài liệu không đồng nhất về những nơi nào ông đã rao giảng Tin Mừng. Có tài liệu nói là ông đã giảng đạo tại Anh. Cũng có tài liệu bằng tiếng Hy Lạp thì ông giảng đạo tại Hắc Hải (Black Sea), Ai Cập, và Bắc Phi. Nhưng tài liệu Latin “Passio Simonis et Judae”, ông làm việc tại Persia, và tử đạo tại Suanir, nhưng nơi an táng của ông không ai biết.
Truyền thống sau này cho rằng sau khi giảng đạo tại Ai Cập, ông và Giuđa (Thaddaeus) cùng nhau giảng đạo tại Persia và Armenia, hoặc Beirut, Lebanon. Cả hai cùng tử đạo năm 65 AD. Giáo Hội Tây Phương kính hai ông cùng nhau, ngược lại, ở Đông Phương hai ngài được kính riêng. Ông làm quan thầy những người thuộc da.
11.Thađêô (Giuđa): Bị giết bằng tên hoặc bằng rừu ở Armenia hoặc Lebanon.
Giuđa hay còn được gọi là Thaddaeus - Con của Giacôbê. Rao giảng Tin Mừng tới Edessa gần sông Euphrates và chung quanh khu vực Mesopotamian (Iraq, Syria, Turkey, Iran). Ông bị bắn bằng tên và qua đời tại Ararat năm 72 AD.
Thánh Giêrônimô gọi ông là “Trinomious” có nghĩa là người có 3 tên. Trong Máccô 3:18 ông được gọi là Thaddeus. Trong Mátthêu 10:3, ông được gọi là Lebbeus. Và tên Thaddeus (Trái tim được sưởi ấm). Trong Luca 6:16 và Tông Đồ Công Vụ 1:13, ông được xem như Giuđa anh em của Giacôbê. Trong Bữa Tiệc Ly, chính ông là người đã hỏi Chúa Giêsu: “Tại sao Chúa chỉ tỏ mình cho chúng con mà không cho thế giới.” (Gioan 14:22) Qua câu hỏi này ông muốn cho mọi người được biết Chúa Kitô.
Theo Hippolytus, sau khi Chúa về trời, ông ra đi rao giảng Tin Mừng cho người ở Edessa (bên trên Mesopotamica) và cả vùng Mesopotania. Qua đời tại Berytus (Lebanon, gần Syria và Thổ Nhĩ Kỳ), và được an táng tại đó.
12.Mátthia (thay thế Giuđa Iscariot): Bị ném đá và chém đầu trong thời gian vào khoảng năm 40-65 AD.
Matthias - Theo tiếng Hy Lạp có nghĩa “Ân huệ của Giavê”. Ông là một trong 70 môn đệ theo Chúa Giêsu từ đầu, lúc Người chịu phép rửa bởi Gioan Tiền Hô trên sông Jordan cho đến khi Người về trời (Tông Đồ Công Vụ 1:21-22).
Sau khi Chúa về trời, Phêrô đã triệu tập 11 Tông Đồ trên căn thượng lầu và đã bỏ phiếu giữa Matthias và Giuse còn gọi là Barsabus, người có tên họ là Justus. Matthias được chọn thay thế cho Giuđa Iscariot để nâng con số các Tông Đồ thành 12. Ông là Tông Đồ không do chính Chúa Giêsu tuyển chọn.
Ông được coi là đã tới Syria cùng với Andrê. Theo Nicephorus (Historia eccl., 2, 40), Mátthia đầu tiên giảng Tin Mừng ở Judaea, rồi sau đó ở Aethiopia (miền Colchis, thuộc Georgia ngày nay), và bị ném đá chết.
Một truyền thống khác cho rằng ông bị người Do Thái ném đá tại Giêrusalem, sau đó bị chém đầu. (cf. Tillemont, Mémoires pour servir à l'histoire ecclesiastique des six premiers siècles, I, 406-7). Cũng theo Hippolytus, Mátthia chết ở Giêrusalem năm 80 AD. Và một truyền thống khác cho rằng ông đã rao truyền Phúc Âm trên bờ biển Caspian và Cappadocia.
Những tin tức liên quan đến cuộc sống và cái chết của ông không rõ ràng. Theo Nicephorus (Lịch Sử Giáo Hội II.40), đầu tiên ông rao giảng Phúc Âm ở Judea, rồi tới Ethiopia, và ông bị đóng đinh. Theo Dorotheus thì Matthias rao giảng Tin Mừng cho những người man khai, mọi rợ ở trong Ethiopia, và hải cảng biển Hyssus, tại cửa sông Phasis. Ông qua đời tại Sebastopolis, và được an táng gần Đền Thờ Mặt Trời. Thánh Helena đã đem hài cốt của ông về Rôma.
13.Phaolô: Bị chặt đầu bằng gươm, vì ông có quốc tịch Rôma dưới thời hoàng đế Neron năm 33 AD.
Phaolô (còn được biết đến với tên gọi là Saulê) quê ở Tarsus. Sinh khoảng năm 5 – khoảng năm 64/65 AD. Ông là một Pharisiêu nhiệt thành, đã từng bắt bớ các Kytô hữu thời sơ khai. Sau khi được Chúa Giêsu kêu gọi trên đường đi Damascus, ông đã trở thành một Tông Đồ nhiệt thành truyền bá Tin Mừng của Chúa Giêsu vào thế kỷ thứ nhất. Nhờ những đóng góp cho Tân Ước, ông thường được xem là một trong những nhân vật quan trọng nhất của thời kỳ các Tông Đồ. Ông cũng là người đã thành lập nhiều giáo đoàn tại Tiểu Á và Châu Âu trong khoảng thời gian từ giữa thập niên 40 đến giữa thập niên 50 AD. Các tài liệu chính về cuộc đời và công việc của Phaolô là những bức thư của chính ông và sách Tông Đồ Công Vụ trong Tân Ước.
Sách Tông Đồ Công Vụ và các văn bản khác trong Tân Ước nêu đích danh những giáo đoàn chủ chốt được thành lập trực tiếp do ông qua ít nhất ba cuộc hành trình truyền giáo:
-Hành trình thứ nhất (Galati / Tiểu Á): Antioch thuộc vùng Pisidia, Iconium, Lystra và Derbe.
-Hành trình thứ hai (Macedonia và Achaia/Hy Lạp): Philippi, Thessalonica, Berea và Corinth.
-Hành trình thứ ba: Ephesus (nơi đóng vai trò là trung tâm cho các hội thánh tại gia trong khu vực lân cận).
Các học giả cũng ghi nhận rằng có khả năng ông đã thành lập hoặc góp phần hình thành các nhóm tín hữu và mạng lưới hội thánh tại gia sơ khai tại những địa điểm khác như: Tarsus, Athens, Cenchrea, Troas, Colossae và Hierapolis (thường gắn liền với tầm ảnh hưởng trong mục vụ rộng lớn hơn của ông hoặc các môn đệ của ông). Do đó, ông xứng đáng nhận danh hiệu Tông Đồ Dân Ngoại.
*Hiệu đính nguyên bản “12 TÔNG ĐỒ CÁC NGÀI ĐÃ SỐNG Ở ĐÂU VÀ CHẾT NHƯ THẾ NÀO SAU NGÀY CHÚA PHỤC SINH” phổ biến lần đầu ngày 20 tháng 7 năm 2022.
Lễ kính Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, Gabriel và Graphael
29 tháng 9 năm 2026
___________
Tài liệu tham khảo
-Ken Curtis, Ph.D.
Church History Timeline
6000-1 BCAD 1-300301-600601-900901-12001201-15001501-16001601-17001701-18001801-19001901-20002001-Now
- Hippolytus of Rome - Birth unknown, died around 236 AD.
- Eusebius - Was the Bishop of Caesarea in Palestine, known as the “Father of Church History” because he wrote about the church history. Lived around 260-341 AD.
Sau hơn 50 năm xa cách, gần đây anh em, thầy trò chúng tôi mới có dịp gặp lại nhau, thế mà không hiểu tại sao trong câu chuyện hội ngộ hôm đó ngoài những ký ức của tuổi thơ, của thời còn ngồi chung với nhau dưới mái trường được kể lại, không biết ở đâu xuất hiện câu chuyện về quỷ xen vào.
“Happy Birthday mommy”. Những lời đầy cảm xúc, chân tình và yêu thương này các con tôi mỗi năm một lần chúng đã nói, và đã hát mừng mẹ của chúng trong ngày mừng sinh nhật của nàng, mỗi khi chiếc bánh sinh nhật được đem ra.
Khi nghe nói về Thánh Monica (331-387), đa số chúng ta thường nghĩ rằng thánh nữ là một bà góa già nua, quê mùa, và lẽo đẽo đi theo một đứa con hoang đàng, khóc lóc, van xin nó quay trở về với đạo thánh Chúa.
Theo truyền thống và quan niệm chung của người Việt Nam, để tìm cho mình một cuộc hôn nhân hạnh phúc, nhiều người đã đi coi bói, tránh xung đột tuổi tác, tìm chọn ngày lành tháng tốt.
Giáo Hội Công Giáo có 4 tín điều liên quan đến Đức Maria, gồm: Mẹ Thiên Chúa, Trọn Đời Đồng Trinh, Thụ Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội, và Linh Hồn và Xác Lên Trời.
Một cặp vợ chồng nọ là những người say mê và sưu tầm đồ gốm cổ, đặc biệt là những bộ tách trà. Cả hai chuẩn bị mừng Ngân Khánh thành hôn. Họ đang trên đường đến Luân Đôn để thăm những tiệm bán đồ cổ,
Nếu có ai hỏi bạn: “BẠN CÓ MUỐN PHÓ MẶC CON CÁI CHO INTERNET HƯỚNG DẪN KHÔNG?” Câu trả lời chắc chắn sẽ là: “Khùng sao mà làm chuyện ấy”.
Sẽ không có một thống kê chính xác về ngoại tình. Lý do vì không ai lại dám công khai: “Lạy ông tôi ở bụi này.” Tính chung, có khoảng 15-20% những người đã có gia đình ngoại tình.
Cách đây không lâu, con gái của một người bạn tôi nói với bố của mình: “Con muốn có một đứa con với bạn trai của con nhưng con không muốn lấy anh ta”.
Hôm rồi trong một buổi họp cộng đồng, một người bạn ngồi cạnh tôi tự nhiên hỏi tôi: “Tại sao ở Việt Nam nạn đánh vợ phổ thông quá vậy? Bộ chính quyền không có luật lệ gì bảo vệ phụ nữ sao?”
Gần đây hiện tượng nữ tu giảng tĩnh tâm đang gây chú ý tại một số giáo xứ ở Việt Nam cũng như hải ngoại. Một số người tỏ vẻ dè dặt, một số khác thì không chấp nhận.
Trải qua thời thơ ấu, niên thiếu và cho đến hôm nay ở tuổi bát tuần, mỗi lần tháng Năm về là lòng tôi lại cảm thấy hân hoan, một cảm tình sốt mến đặc biệt dành dâng kính Đức Trinh Nữ Maria.
Anh chị em thân mến: Đây là thời khắc mà tôi đã hằng mong đợi. Tôi đã đứng trước Khăn Liệm Thánh trong nhiều cơ hội khác nhau, nhưng lúc này tôi đang cảm nghiệm về nó qua cuộc Hành Hương này và giây phút này bằng một cường độ đặc biệt: Có lẽ vì những năm vừa qua đã cho tôi cảm xúc nhiều hơn đối với thông điệp của Hình Ảnh phi thường này;
Điểm đến của hành trình Mùa Chay là đại lễ Phục Sinh: Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết. Ý nghĩa cao cả của Phục Sinh được biểu tượng qua Cây Nến Phục Sinh. Nó được đốt lên trong khi bóng tối bao trùm khắp thánh đường. Khi nó được rước lên cung thánh, vị tư tế hay phó tế đã hát lên ba lần: “Ánh Sáng Chúa Kytô”, và mỗi lần toàn thể cộng đoàn đều vui mừng, hân hoan đáp lại: “Tạ ơn Chúa!”
Cha mẹ nào cũng muốn con cái ngoan ngoãn, vâng lời, chăm chỉ học hành, hiếu thảo, và thuận hòa với nhau. Nhưng để đạt được những kết quả ấy, phụ huynh phải dày công hướng dẫn, giáo dục, và nhẫn nại sửa sai. “Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Tuy con người sinh ra ai cũng tốt đẹp, nhưng như một mầm non để được phát triển thành những cây trái tươi tốt, đâm chồi, nẩy lộc và sinh hoa kết quả còn tùy thuộc nó được chăm sóc, cắt tỉa ra sao tùy vào tay nghề, lòng yêu nghề, và sự chăm chỉ của người làm vườn.
Hàng năm vào ngày Thứ Tư Lễ Tro mọi Kytô hữu từ Giáo Hoàng, Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục, linh mục, tu sỹ và toàn thể giáo dân đều được vẽ trên trán dấu thánh giá bằng tro, với lời nhắc nhở: “Hãy nhớ mình là đất, và sẽ trở về bụi đất.” (Gen 3:19)
Sơ lược tiểu sử “Người công chính” (Mátthêu 1:19) là danh xưng rất kính trọng và cao cả mà Thánh Kinh đã dùng để nói về Ngài: Thánh Giuse.
Phong trào nữ quyền trong những thập niên gần đây đã để lại nhiều dấu ấn trên mặt xã hội. Ảnh hưởng của nó bao trùm nhiều phương diện từ quan niệm tình yêu đến hôn nhân, gia đình, và đạo đức xã hội.
Phần đông cha mẹ thường có quan niệm về con cái, nhất là khi chúng còn bé không biết gì. Vì suy nghĩ như vậy nên họ không quan tâm gì đến những việc mình làm, những lời mình nói, và cung cách sống của mình.
Kết hôn, ly dị, ly dị rồi kết hôn, ly dị kết hôn rồi ly dị… cái vòng luẩn quẩn này đang trở thành xu thế của thời đại chúng ta. Ngày nay hầu như ít người, nhất là các bạn trẻ quan tâm đến vấn đề này. Hôn nhân hiện giờ dưới cặp mắt của nhiều người chỉ là một trò đùa của tình ái.
Khi nói về biến cố hiển linh của Chúa Cứu Thế, Thánh Mátthêu đã ghi lại cảnh ba Đạo Sỹ từ Phương Đông tiến vào nhà nơi Hài Nhi Giêsu đang ở: “Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến.” (2:11).
“Sinh Nhật, Đặt Tên, Ba Vua, Lễ Nến” là chuỗi nối dài các lễ trọng Mùa Giáng Sinh. Trong đó có việc Giáo Hội đề cao các Thánh Anh Hài là những em nhỏ quanh vùng Belem đã chết thay cho Hài Nhi Giêsu. Truyền thống này cũng khiến chúng ta liên tưởng đến hàng triệu triệu các thai nhi bị giết bỏ hàng năm, và đặt lương tâm con người trên sự lựa chọn giữa lành và dữ, giữa sống và chết, giữa giá trị con người và ích kỷ, kiêu căng, và đồi trụy của dục vọng.
Gần 300 năm dưới thời vua quan triều Nguyễn từ các thế kỷ 17, 18, và 19, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam có hơn 100.000 Kitô hữu đã hy sinh mạng sống để làm chứng cho Tin Mừng và Đức Tin từ năm 1644, năm thầy giảng Anrê Phú Yên chịu tử đạo, cho tới năm 1883. Vua Minh Mạng và vua Tự Đức là những hoàng đế bắt bớ và giết hại các Kytô hữu khốc liệt nhất:
“Ông kia, bà nọ nên thánh, tại sao tôi lại không?” (Thánh Augustine). Câu nói này nêu lên hai câu hỏi: “Thánh nhân là ai? Làm sao chúng ta có thể nên thánh?” Quan niệm chung vẫn cho rằng, thánh nhân là những người được thừa nhận có đời sống thánh thiện, đạo đức phi thường gắn liền với việc ăn chay, kinh lễ, hy sinh, thực hành những công tác bác ái,
Một câu hỏi vẫn thường được đặt ra cho tôi trong những khóa giáo lý tân tòng, hướng dẫn các anh chị em đang chuẩn bị gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Đại khái là: “Em cảm thấy băn khoăn về giáo lý Công Giáo đối với việc thờ cúng tổ tiên.
Trong cuộc hành hương Năm Thánh vừa qua, tôi đã có dịp đến thăm Assisi, quê hương của Thánh Phanxicô. Thật là cảm động khi nhìn lại những nơi ngài đã sinh ra, đã sống, và đã qua đời. Nhưng điều làm tôi suy nghĩ nhiều hơn hết là tinh thần của Phanxicô được thể hiện qua lời Kinh Hòa Bình.
Những quan tâm mà cha mẹ phải để ý đến trẻ em là tình trạng béo phì, tiểu đường, cận thị, lười học, tâm lý bất ổn, và gần đây là thói quen dùng điện thoại (cell phone, iphone, smarthphone). Trong khi nhiều cha mẹ không biết hoặc thả lỏng việc dùng điện thoại, vào năm 2019 CellCell đã thực hiện cuộc khảo cứu 1135 phụ huynh tại Mỹ có con từ 4 và 14 tuổi.
Yêu con bằng cách “cho roi cho vọt” vào thời điểm này được cho là tư tưởng và thực hành lỗi thời, và thiếu văn hóa. Tại các xứ tự do, họ coi việc sửa phạt trẻ em như những hành vi mang tính xâm phạm, gây tổn thương về tâm lý cũng như thể lý của trẻ.
Ngoài những nét đẹp, duyên dáng, nhẹ nhàng, đáng yêu của người phụ nữ, một nhận xét hơi có phần tiêu cực về phái đẹp, là thói “càm ràm”. Càm ràm từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều và từ chiều đến tối. Đêm về nhiều khi trên giường ngủ nhớ tới một vấn đề gì mà ban ngày chưa càm ràm thì đem ra càm ràm tiếp.
Trong một cuộc hội thảo về hôn nhân gia đình, một câu hỏi đã được nêu lên: “Em có người chồng rất thương yêu vợ và lo lắng cho gia đình, nhưng anh ấy có thói là thích cái gì là tự đi làm mà không bàn hỏi với em một vấn đề gì hết, và em là người sau cùng biết chuyện ấy khi nó đã xảy ra bất luận tốt hay xấu.
“Happy Birthday mom”. Những lời đầy cảm xúc, chân tình và yêu thương này các con tôi mỗi năm một lần chúng đã nói, và đã hát mừng mẹ của chúng trong ngày mừng sinh nhật của nàng, mỗi khi chiếc bánh sinh nhật được đem ra.
Trong trích đoạn Phúc Âm ngắn ngủi trên, Thánh Gioan đã gợi lại cho chúng ta hai hình ảnh đáng phải suy nghĩ: Tình yêu Thiên Chúa, và Sự sống đời đời. Nếu để ý suy nghĩ cẩn thận chúng ta nhận ra điều này cả hai đều phát sinh từ Thánh Giá.
“Happy Birthday mom”. Những lời đầy cảm xúc, chân tình và yêu thương này các con tôi mỗi năm một lần chúng đã nói, và đã hát mừng mẹ của chúng trong ngày mừng sinh nhật của nàng, mỗi khi chiếc bánh sinh nhật được đem ra.
Được mời dự tiệc là một vinh dự. Người mời càng có quyền, có thế lực và địa vị thì càng hãnh diện. Đó là mặt nổi của tảng băng, nhưng mặt chìm thì khó ai mà đoán biết. Nhưng có một điều mà nhiều người vẫn thường nói với nhau - hy vọng chỉ là vui thôi - mình mới nhận được giấy phạt “ticket”
Thánh Augustine (354-430) cũng được gọi là Thánh Augustine thành Hippo, một giám mục, học giả, Tiến Sỹ Giáo Hội, thần học gia và triết gia với tầm ảnh hưởng rộng lớn trong thời các Tín Hữu tiên khởi. Hai trong trong các tác phẩm nổi tiếng của ngài là Tự Thú (Confession) và Thành Đô Thiên Chúa (The City of God).
Bước vào đời sống hôn nhân, ai cũng mong được hạnh phúc. Ngược lại, nếu hôn nhân không như ý mình muốn thì đây chính là một bất hạnh mà không ai muốn nó xảy ra. Nhưng nếu chồng bạn, con bạn trở thành những gánh nặng khiến bạn trở nên tuyệt vọng thì cũng đừng thất vọng, vì bạn đang giống một người. Người này đã bước vào hôn nhân khi còn rất trẻ với một người chồng đã gây ra nhiều nỗi thất vọng.
Hồi còn nhỏ, mỗi lần lười không muốn đi nhà thờ hoặc bị cám dỗ bỏ lễ tôi lại nghĩ tới lời mẹ dậy: “Phải siêng năng đọc kinh, cầu nguyện, đi nhà thờ, đi lễ để ngày sau được lên thiên đàng”. Nhưng lại không dám hỏi mẹ: “Thiên đàng là gì? Nó ở đâu?” Và nếu như có hỏi thì cũng được nghe một câu trả lời, đại khái:
Vào một buổi chiều cách đây khoảng 15 năm, Đức Cha Chu Văn Minh cùng với cha phụ tá Brunô Phạm Bá Quế thuộc Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hà Nội đã đến thăm gia đình chúng tôi. Những câu chuyện tình yêu sét đánh tưởng chỉ có trong tiểu thuyết tình,
Có ít nhất ba cách chính để đối thoại hay nói chuyện với nhau: bằng ngôn ngữ, bằng cử chỉ, và bằng chữ viết. Đối thoại hay nói bằng ngôn ngữ được chuyển đạt bằng lời, bằng biểu hiện cơ thể, và bằng viết thành chữ điều muốn nói. Nhưng nguyên nhân gây đổ vỡ trong hôn nhân lại chính là vợ chồng không nói, không hiểu nhau và không trao đổi được với nhau. Thay vì nói cho nhau nghe, lắng nghe để hiểu nhau, họ chỉ to tiếng cãi vã rồi dẫn đến bất hòa. Theo kiểu nói bình dân gọi đây là “khắc khẩu!”
Nhiều anh chị em thất tình, chán đời thường thích ngâm nga bài hát hoặc những lời ca trên của phần mở đầu bài hát “Không 1” của Nguyễn Ánh 9. Lý do mà anh không còn yêu em nữa hoặc em không còn yêu anh nữa thì có rất nhiều, và tùy vào mỗi người, mỗi hoàn cảnh.
“Linh mục nên hay không nên có vợ? Phụ nữ nên được phong chức linh mục?” Đây là những đề tài từng đã gây nhiều tranh cãi trong nhưng thập niên gần đây. Đa số không đồng tình; ngược lại, cũng có một số đồng tình trong đó có cả các giáo phẩm, linh mục và tu sỹ.
Mỗi lần tôi nhận được câu hỏi, đại khái: “Làm cách nào để tôi có thể nói chuyện được với đứa con gái ở tuổi dậy thì?” Hoặc những câu hỏi tương tự, tư tưởng đầu tiên xuất hiện trong trí tôi là những phụ huynh này đã không biết nói chuyện với con cái như thế nào khi chúng còn bé,
Thánh Thể cũng được biết như Bánh Nuôi Linh Hồn, hoặc Bữa Tiệc Ly là BÍ TÍCH TÂM ĐIỂM của Kytô Giáo. Nó được Chúa Giêsu thiết lập trong Bữa Tiệc Khi khi Ngài phân chia bánh và rượu với các môn đệ, xác nhận đó là mình và máu của Ngài.
Một Thiên Chúa mà có ba ngôi. Ba ngôi là một Thiên Chúa. Đây là một trong những mầu nhiệm sâu thẳm, cao siêu nhất vượt trên mọi sự hiểu biết của đức tin Kitô Giáo. Mỗi lần làm dấu Thánh Giá, chúng ta đang tuyên xưng một Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần.
Bốn mươi ngày sau khi từ cõi chết sống lại, Chúa Giêsu đã lên trời trên núi Olives gần làng Bethany trước mặt 11 Tông Đồ (TĐCV 1:9-12; Luca 24:50-51). Tông Đồ Công Vụ đã diễn tả cảnh thầy trò chia tay như sau: “Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa.
Trong những điều làm cho cha mẹ cảm thấy đau lòng và thất vọng, là tình trạng đứa con của mình bỏ nhà đi hoang. Một đứa trẻ ở nhà với cha mẹ mà đôi khi còn lười biếng, bê bối học hành, cãi trả cha mẹ, thiếu hòa khí với anh chị em, sống thiếu kỷ luật thì khi nó ra khỏi gia đình sẽ sống như thế nào?
Ngày 31 tháng Năm kết thúc tháng Hoa và cũng là ngày Giáo Hội mừng Lễ Mẹ Thăm Viếng. Theo Phúc Âm thánh Luca, sau khi Tổng Thần Gabriel truyền tin Mẹ mang thai Chúa Giêsu, đồng thời cũng biết chị họ mình là Isave đã có thai được sáu tháng, Đức Maria đã vội vã lên đường đến thăm viếng và chúc mừng người chị cao niên đang mang tiếng là son sẻ của mình. (Luca 1:39-56)
Viết về mẹ, tôi muốn nhìn mẹ bằng cái nhìn tuổi thơ, với những câu nói ngớ ngẩn, những nhận xét ngu ngơ nhưng dễ thương về mẹ. Những câu nói mà có lẽ mẹ cho đến tuổi già vẫn nhớ, vẫn lập lại như những kỷ niệm khó quên khi con còn thơ bé.
Khói trắng đã bốc lên từ ống khói Điện Sistine lúc 6:07 chiều và sau đó vào lúc 7:17 chiều theo giờ địa phương Rôma, Thứ Năm ngày 8 tháng Năm, Đức Hồng Y Dominique Mamberti trưởng đẳng phó tế xuất hiện tại balcony Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô thông báo với toàn thế giới:
Lịch sử Giáo Hội Việt Nam không nhắc đến một cách rõ ràng việc sùng kính Đức Mẹ trong tháng Năm đã được truyền vào Việt Nam từ bao giờ và trong những hoàn cảnh nào. Tuy nhiên, những ai đã qua tuổi thiếu niên ở một giáo xứ thì không thể quên được hình ảnh những buổi dâng hoa kính Đức Mẹ khi tháng Năm về, và thuộc lòng những bài hát như:
Thánh Giuse, Bạn Trăm Năm của Đức Trinh Nữ Maria, “cha đồng trinh” hay dưỡng phụ của Chúa Giêsu Kitô là một vị thánh cao cả trong Giáo Hội. Thánh Kinh gọi Ngài là “người công chính” (Mátthêu 1:18). Ngoài những danh hiệu cao quý trên, Thánh Kinh còn dành cho Ngài một danh hiệu nói nghề nghiệp và sinh kế của Ngài: Bác thợ mộc.
Sau khi phục sinh từ cõi chết, Chúa Giêsu đã hiện ra với một số người trong một số hoàn cảnh. Ngài hiện ra với Maria Magdalene, Phêrô, và các Tông Đồ. Phaolô liệt kê những lần hiện ra mà ông biết: “Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ.
Chúa Nhật II Phục Sinh được Giáo Hội cử hành đại lễ kính Lòng Thương Xót Chúa. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã thiết lập lễ này nhân dịp phong thánh cho Nữ tu Maria Faustyna (thường được đánh vần là Faustina) Kowalska ngày 30 tháng Tư 2000. Vậy tại sao thế giới hôm nay cần đến Lòng Thương Xót Chúa? và Tại sao Giáo Hội lại phổ biến Lòng Thương Xót này?
Trong khi đón rước Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, dân chúng đã tung hô Ngài: “Chúc tụng đức vua, đấng nhân danh Chúa mà đến, bình an trên trời, và vinh quang trên các tầng trời.” (Luca 19:38) Nhưng liệu những người đón tiếp Chúa hôm đó, có thực sự nhận ra Ngài là vua của các vua, hay chỉ thuần túy đón tiếp một vị vua như Saulê hay Đavít.
“Dô! Dô! Dô!”
“Lâu lâu rồi ta mới nhậu một lần.
Nhậu một lần thì nhậu cho lâu lâu”.
Rồi cả bàn lại nâng ly hô to: “Dô! Dô! Dô!”
Đây là hình ảnh một bữa nhậu mà tôi đã học được trong lần về quê thăm gia đình vừa qua. Những bữa nhậu như vầy thường xuyên xảy ra trong văn hóa giao lưu đối tác tại Việt Nam.
Khi suy niệm về trích đoạn Thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Philipphê đoạn 3 từ câu 8 đến 11, chúng ta có cảm thấy bị thu hút và bàng hoàng về xác tín mạnh mẽ của thánh nhân khi viết về Chúa Giêsu Kytô. Ngài viết: “…Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Kytô Giêsu, Chúa của tôi.
Ba điều cần phải làm trong mùa chay là cầu nguyện, chay tịnh và thực hành bác ái. Đây là những việc sẽ dẫn chúng ta tiến tới mối tương quan gần gũi hơn với Thiên Chúa, đón nhận ánh sáng Phục Sinh. Nhưng để được gần gũi, thân mật với Ngài, con người phải biết thống hối và trở về với Ngài.
Thánh Martin sinh tại Savaria, địa phận Pannonia thuộc Hung Gia Lợi ngày nay vào năm 316 hoặc 336, qua đời ngày 8 tháng Mười Một 397 với tuổi thọ khoảng 60 đến 81. Khi còn là một sỹ quan trẻ, vào một buổi chiều mùa đông lạnh giá, ngài thấy một người ăn xin đang co ro, rét run bên đường.
Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất của người dân Việt Nam, mang ý nghĩa nhân văn, phong tục, tập quán, và truyền thống của một dân tộc. Vậy nguồn gốc, ý nghĩa, và phong tục ngày Tết như thế nào?
Năm hết tết đến, mọi người đều thấp thỏm muốn biết năm mới tương lai, hậu vận sẽ ra sao? Tình duyên, gia đạo, công ăn việc làm, xây cất, hùn hạp, công danh sự nghiệp sẽ như thế nào? Tương lai nhân loại năm 2025 sẽ đi về đây? Liệu thế chiến thứ ba có xảy ra?
Chồng tôi là một người đàn ông trăng hoa không cần biết hậu quả như thế nào. Chúng tôi đã sống với nhau 10 năm và có 2 con gái rất xinh xắn, dễ thương. Trong thời gian chung sống tính đến nay anh đã ngoại tình với 3 người phụ nữ: đàn bà có chồng, đàn bà lớn tuổi, và con gái mới lớn. Mỗi lần bị lộ chuyện là anh thề sống thề chết sẽ từ bỏ, sẽ quay về con đường ngay chính. Nhưng gần đây thì anh lại đang liên lạc với một người phụ nữ thứ tư. Người này không ai khác là cô em họ hàng xa với anh ta.
NGÀY SINH NHẬT của Chúa và Đấng Cứu Độ chúng ta, Chúa Giêsu Kitô, đã xuất hiện trên trái đất, và sự tiếp nối của ngày này kéo dài mãi đến thời đại của chúng ta, dẫn tới ngày kỷ niệm của nó, đã được chúng ta nhận biết hôm nay khi vui mừng về việc cử hành đặc biệt này.‘Chúng ta hãy hân hoan và vui mừng về ngày ấy,’
NGÀY SINH NHẬT của Chúa và Đấng Cứu Độ chúng ta, Chúa Giêsu Kitô, đã xuất hiện trên trái đất, và sự tiếp nối của ngày này kéo dài mãi đến thời đại của chúng ta, dẫn tới ngày kỷ niệm của nó, đã được chúng ta nhận biết hôm nay khi vui mừng về việc cử hành đặc biệt này.‘Chúng ta hãy hân hoan và vui mừng về ngày ấy,’
Lễ Giáng Sinh hay còn được gọi là Lễ Sinh Nhật, Christmas, Noël, Nativity, Kolena, Xmas… Một đại lễ mang tính cách quốc tế, được cử hành trong toàn Giáo Hội Công Giáo, và hầu như trên khắp thế giới. Đây là ngày vừa có tính cách tôn giáo, và cũng là một lễ hội,
Biến cố giáng sinh của Chúa Giêsu ở Belem (Bethlehem) được trình thuật trong Phúc Âm của Mátthêu và Luca: “Và bà hạ sinh một con trai. Bà quấn con trong khăn và đặt trong một máng cỏ, bởi vì không có phòng trọ cho họ.” (Luca 2:7). Theo truyền thống, Hài Nhi Giêsu được sinh ra trong một chuồng nuôi súc vật ngoài thành Belem thuộc miền đồi núi Giuđêa, khoảng 10 Km phía Nam thành Giêrusalem, Bờ Tây (the West Bank) của Palestine.
Nhập Thể và Thánh Thể là hai mầu nhiệm rất quan trọng đi đôi với nhau trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Chúa Giêsu sinh ra tại hang đá Belem, cũng là Chúa Giêsu được sinh ra trên bàn thờ trong các thánh lễ. Ngài là của ăn và là bánh hằng sống. Mùa Vọng với mục đích cuối cùng của nó là đem chúng ta đến gần và lãnh nhận Thánh Thể như một phương thế dọn lòng đón chờ ngày kỷ niệm Chúa giáng trần và ngày Ngài lại đến trong vinh quang.
Các thánh tử đạo Việt Nam là danh sách những tín hữu, chủng sinh, thầy giảng, linh mục Công Giáo Việt Nam hoặc thừa sai ngoại quốc được Giáo Hội Công Giáo Rôma tuyên thánh với lý do chết vì Đức Tin. Theo lịch sử Công Giáo Việt Nam, ước tính có đến hàng trăm ngàn người đã phải chết để làm chứng đức tin của mình. Trong số đó có 117 vị được tôn phong hiển thánh
Hôm nay tôi một mình đi trong nghĩa trang, tìm lại những kỷ niệm của những người đã đi trước: giám mục, đức ông, linh mục, tu sỹ, các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ, chú thím, bạn bè, và anh em. Đời người thật ngắn ngủi. Mới đó mà nay đã ra người thiên cổ. Mới đó mà nay đã không còn xuất hiện trên cõi đời này, không còn có dịp gặp gỡ, hàn huyên, tâm sự với nhau nữa.
Theo Chúa, hy sinh vì Chúa, và phục vụ Chúa kết quả để được gì? Đây không phải chỉ là câu hỏi mà mọi người chúng ta đôi lúc bị cám dỗ nghĩ tới. Các thánh nhân, ngay cả các Tông Đồ cũng bị cám dỗ này làm lung lay. Điển hình là Phêrô, sau một thời gian theo Chúa, ông đã chẳng thấy tương lai gì nên thẳng thắn hỏi Chúa: “Lạy Thầy chúng tôi đã bỏ mọi sự mà theo Thầy, chúng tôi sẽ được gì?” (Mt 19:27).
Maria Magdalena (Maria Mađalêna hay còn được gọi là Maria Mai-đệ-Liên) là một trong các nữ môn đệ của Chúa Giêsu. Bà được Ngài chữa lành và trừ cho bảy quỷ (x. Luca 8:2; Marcô 16:9). Bà trung thành đi theo Chúa kể cả đứng dưới chân thập giá trong khi các Tông Đồ bỏ trốn hết, ngoại trừ một mình Gioan ở lại.
-Sầu Đông hôm qua đem sổ điểm về em la cho nó một mẻ. -Nó phạm lỗi gì mà em la nó? -Nó bị một con B. -Em không biết là thang điểm, B đứng hạng nhì không? A,B,C. Làm gì phải la nó, vả lại chỉ có một con B thôi mà. -Em muốn nó được A tất cả. Em muốn nó phải vào được trường giỏi, ra trường thủ khoa và có tương lai. Em một mình nuôi nó ăn học, em có quyền hy vọng điều đó. Câu chuyện giữa tôi và cô em trên chắc cũng là giấc mơ của nhiều phụ huynh.
-Sầu Đông hôm qua đem sổ điểm về em la cho nó một mẻ. -Nó phạm lỗi gì mà em la nó? -Nó bị một con B. -Em không biết là thang điểm, B đứng hạng nhì không? A,B,C. Làm gì phải la nó, vả lại chỉ có một con B thôi mà. -Em muốn nó được A tất cả. Em muốn nó phải vào được trường giỏi, ra trường thủ khoa và có tương lai. Em một mình nuôi nó ăn học, em có quyền hy vọng điều đó. Câu chuyện giữa tôi và cô em trên chắc cũng là giấc mơ của nhiều phụ huynh.
Mấy người bạn của tôi nay người này, mai người khác cứ lần lượt rủ nhau từ giã cõi đời. Những người còn lại thì hồi hộp, thấp thỏm: “Bao giờ đến phiên mình?” Vẫn biết rằng có sinh thì phải có tử, nhưng chuyện gì xảy ra trước và sau đó vẫn là điều mà nhiều người thường hay băn khoăn, lo lắng.
Trải qua bao thế kỷ, Giáo Hội Công Giáo đã dành tháng Năm để đặc biệt tôn kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Không phải chỉ là một ngày, mà toàn tháng Năm. Như mùa Đông qua, tháng Năm được coi như khởi đầu một sức sống mới của vạn vật. Truyền thống dành riêng tháng Năm tôn kính Đức Mẹ bắt nguồn từ việc người Rôma tôn kính nữ thần mùa xuân. Các Kitô hữu ban đầu đã tôn giáo hóa tập tục này, và tổ chức những cuộc rước kiệu hoa và cầu nguyện cho mùa màng phong phú.
Chúa Giêsu, qua trích đoạn Tin Mừng của Thánh Gioan (15:1-8) đã diễn tả về mối tương quan giữa Ngài và các môn đệ qua hình ảnh quen thuộc mà mọi người Do Thái đều biết, đó là hình ảnh cây nho. Ngài là cây nho và chúng ta là cành.
Cây nho mọc khắp nơi tại Palestine. Dù trồng ở đâu, việc chuẩn bị đất trồng vẫn là việc chính yếu.
Câu truyện truyền tin của Đức Maria đã được Thánh sử Luca (1:26-38) ghi lại một cách chi tiết và đầy đủ. Trong biến cố này Đức Maria đã trở nên một gương mẫu đức tin cho chúng ta. Người cho chúng ta thấy rằng đức tin không chỉ là hành động chấp nhận, nhưng còn là sự tín thác, trung tín, vâng lời, và phục tùng nữa.
“Đừng sợ, Ta là nguyên thủy và cùng đích, và là Đấng hằng sống. Ta đã chết, và nay ta đang sống tới muôn đời” (Khải Huyền 1:17-18).
Chúng ta nghe những lời yên ủi này trong Bài Đọc Thứ Hai trích từ Sách Khải Huyền. Những lời mời gọi chúng ta hướng tầm nhìn vào Đức Kitô, để cảm nghiệm sự hiện diện an ủi của Ngài.
Thứ Sáu Tuần Thánh. Đồi Golgotha. Cây thập tự. Không gian, thời gian và vật dụng ấy nhắc tôi về cái chết đau thương, đầy nhục nhã của Đức Giêsu Cứu Thế. Ngài bị đóng đanh và chết trên thập giá. Nhưng cái chết của Người thực sự đem lại cho tôi điều gì? Tại sao tôi phải xót xa và thương cảm? Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Rôma (6:3-11) đã trả lời tôi về những gì mà tôi đang suy tư, khi liên kết cái chết của Chúa Giêsu với cái chết của người Kitô hữu qua Bí Tích Thánh Tẩy:
Mỗi lần Chúa Nhật Lễ Lá mở đầu Tuần Thánh, Giáo Hội lại cho đọc những trình thuật về cuộc khải hoàn của Chúa Giêsu vào Thành Thánh Giêrusalem. Gọi là cuộc khải hoàn, nhưng đúng hơn, đây là hình ảnh của việc chiếm ngự tâm linh mà Chúa Giêsu sẽ thực hiện khi ngài chịu chết để cứu chuộc nhân loại. Một hình ảnh của cuộc chiến thắng tinh thần.
“Khi đến gần làng Bethphage, bên triền núi gọi là Ôliu. Người sai hai môn đệ và bảo: “Các anh đi vào làng trước mặt kia. Khi vào sẽ thấy một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh tháo dây ra và dắt nó đi. Và nếu có ai hỏi: “Tại sao các anh tháo lừa người ta ra, thì cứ nói: “Chúa cần đến nó!”
Thánh Giuse là một vị thánh cao cả và vỹ đại nhất trong Giáo Hội Công Giáo. Hình ảnh của ngài luôn gắn liền với hình ảnh Đức Trinh Nữ Maria và Chúa Giêsu, Đấng cứu chuộc nhân loại. Tuy nhiên, sự cao cả và vỹ đại của Ngài không được những tài liệu, sách báo do con người ghi chép, nhưng tiềm ẩn trong Thánh Kinh Tân và Cựu Ước.
Chúa Giêsu sau khi chịu Phép Rửa trên sông Gordan, Ngài được Thánh Thần đưa vào sa mạc, ở đó 40 ngày ăn chay và chịu Satan cám dỗ. Để tìm hiểu những cám dỗ ấy của Ngài, cũng như chúng có ý nghĩa gì trong đời sống tâm linh của chúng ta, đặc biệt trong Mùa Chay Thánh này. Sau đây là bài viết của cha Thomas G. Weinandy, OFM, Cap., một nhà thần học, một nhà trước tác và cựu thành viên trong Ủy Ban Thần Học Thế Giới của Vatican,
Chúa Giêsu đã đem ba môn đệ là Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi cao, ở đó Chúa biến hình trước mặt các ông (x. Marcô 9:2-10).
Thánh sử Marcô đã tả lại quang cảnh này bằng những từ ngữ rất gợi hình, truyền cảm: “Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy.” (3) Có Maisen và Êlia cùng xuất hiện đàm đạo với Chúa. Điều này khiến các ông vui sướng, và phản ứng lúc đó của Phêrô là muốn ở lại luôn trên núi với Thầy:
Anh chị em thân mến!
Khi Thiên Chúa của chúng ta mặc khải Ngài chính Ngài, thông điệp của Ngài luôn luôn nói đến tự do: “Ta là Chúa, Thiên Chúa các ngươi, người đã đem các ngươi ra khỏi đất Ai Cập, khỏi nhà nô lệ” (Ex 20:2). Đây là những lời đầu tiên trong Mười Giới Luật mà Ngài đã ban cho Maisen trên núi Sinai.
Vợ chồng xưng hô với nhau bằng Chồng ơi – Vợ ơi, Bố ơi – Mẹ ơi, Anh ơi – Em ơi, hoặc Mình ơi thì đến già vẫn yêu thương mặn nồng, kẻ thứ 3 khó có chỗ chen chân vào. Những từ ngữ trên là cách gọi vừa thể hiện chủ quyền sở hữu, trách nhiệm, và tình cảm mà cả hai dành cho nhau.
Thống kê cho thấy, ngày nay rất nhiều phụ nữ chọn sống độc thân, không lấy chồng và sinh con. Lý do vì họ muốn được tự do theo đuổi những giấc mộng riêng tư, vì không muốn chịu ràng buộc với trách nhiệm làm vợ và làm mẹ. Nhưng tự thâm tâm và bản năng, người phụ nữ luôn muốn có một người chồng và được làm mẹ.
Qua hai câu Thánh Kinh ngắn gọn, Thánh Ký Marcô đã vẽ ra hai khuôn mặt trái ngược nhau về Chúa Giêsu: “Người trở về nhà và đám đông lại kéo đến, thành thử Người và các môn đệ không sao ăn uống được. Thân nhân của Người hay tin ấy, liền đi bắt Người, vì họ nói rằng Người đã mất trí.” (3:20-21)
Ba nhà chiêm tinh hoặc đạo sỹ (magi). Các ngài là Caspar hay Caspas, Jaspas, Gathaspa. Melchior hay Melichior. Và Balthasar hay Balthazar, Balthassar hoặc Bithisarea. Các ngài đã lận lội đường xa đến thờ lạy Đức Kitô vừa giáng sinh. “Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người” (Mt 2:2).
“Ngài đã trở nên một trẻ thơ, để Ngôi Lời có thể được chúng ta nắm bắt. Bằng cách này, Thiên Chúa dạy chúng ta yêu thương những người bé mọn… Ngài dạy chúng ta yêu những ai yếu đuối.”
“Ngài đã trở nên một trẻ thơ, để Ngôi Lời có thể được chúng ta nắm bắt. Bằng cách này, Thiên Chúa dạy chúng ta yêu thương những người bé mọn… Ngài dạy chúng ta yêu những ai yếu đuối.” Trong bài giảng dưới đây, Đức Thánh Cha đã lưu tâm đến những trẻ em bị lạm dụng, xâm phạm, bao gồm những thai nhi bị giết hại,
Thấm thoát mà đã 2023 lần kỷ niệm ngày Giêsu giáng trần. Mỗi năm mỗi khác, và mỗi nơi cũng mỗi khác. Có những năm trời mưa, giông bão, tuyết rơi. Có những năm thanh bình, và cũng có những năm chiến tranh. Riêng tại quê hương Việt Nam tuy hết chiến tranh nhưng lại chưa có thanh bình!
Advent xuất phát từ tiếng Latin là adventus có nghĩa là đang đến, đang tới gần. Theo lịch phụng vụ, đây là thời gian mong chờ và chuẩn bị đón mừng Sinh Nhật của Đức Giêsu Kitô trong đêm Giáng Sinh, và ở một nghĩa khác, nhắc nhở chúng ta hướng tới ngày trở lại lần thứ hai của Ngài. Mùa Vọng kéo dài qua 4 tuần lễ với 4 Chúa Nhật Mùa Vọng.
Hôm 8 tháng 9 năm 2023 lễ Sinh Nhật Đức Mẹ, trong lúc nguyện ngắm buổi sáng trước Thánh Lễ, tôi đã dùng cuốn sách Vinh Quang Mẹ Maria (The GLORIES of MARY) của Thánh Alphonsus De Liguori làm tư tưởng cho phần suy niệm. Và tôi đã cùng ngài suy niệm câu: “Đến sau cõi đời này, xin Mẹ cho chúng con được thấy Chúa Giêsu quả phúc của lòng Mẹ”
Theo truyền thống đã có từ những thế kỷ đầu, Giáo Hội Công Giáo tôn kính 7 Tổng Thần có tên là Michael, Gabriel, Raphael, Uriel, Camael, Jophiel, and Zadkiel. Ba vị đầu là Michael, Gabriel và Raphael
Sau khi đọc bài “KHI THA THỨ LÀ TỰ THA CHÍNH MÌNH”, một độc giả đã email phản ảnh ý kiến của mình. Ông viết: “Bài học này tôi đã học mãi mà chưa thuộc. Tha đã khó mà quên những điều người khác làm cho mình phải khổ, phải thiệt thòi, hoặc phải mất danh dự thì càng khó hơn”.
“Tha thứ là tự tha cho chính mình”. Tư tưởng này xem ra như không hợp với suy nghĩ và lối sống của nhiều người. Làm gì có chuyện tha cho kẻ cướp chồng mình, kẻ phản bội mình vì một người đàn bà khác, kẻ cướp của, giết hại cha mẹ, anh chị em mình, hoặc kẻ tham ô khiến mình phải mất đất, mất nhà, mất việc làm để rồi đến nỗi táng gia bại sản, thân bại danh liệt, gia đình đổ vỡ, con cái nheo nhóc, lâm cảnh tù tội…
Hôn nhân là một đời sống hạnh phúc. Nó chính là nền tảng của gia đình, của xã hội, và cả tôn giáo nữa. Bởi đó hôn nhân có rất nhiều kẻ thù. Thoạt nhìn vào những đổ vỡ của hôn nhân, người ta thường cho rằng kẻ thù của nó là những tệ nạn của xã hội: rượu chè, nghiện hút, cờ bạc, và lăng nhăng trai gái. Một số nguyên nhân khác bao gồm: vợ chồng ghen tương, lười biếng, thiếu trách nhiệm, nếp sống gia trưởng, và bạo hành trong gia đình.
Hôm nay (8 tháng 9 năm 2023) lễ Sinh Nhật Đức Mẹ, trong lúc nguyện ngắm buổi sáng trước Thánh Lễ, tôi đã dùng cuốn sách The GLORIES of MARY (Vinh Quang Mẹ Maria) của Thánh Alphonsus De Liguori làm tư tưởng cho phần suy niệm. Trong phần tài liệu, tôi đã đọc bài viết của thánh nhân, và cùng ngài suy niệm câu: “Et Jesum benedictum fructum ventris tui nobis post hoc exilium obstande”
Chư huynh đáng kính trong hàng Giám Mục và Linh Mục
Anh chị em thân mến, Trong bài ca Ngợi Khen (Magnificat), một thi ca tuyệt vời của Đức Mẹ mà chúng ta vừa nghe trong Tin Mừng, chúng ta tìm thấy một số từ ngữ gây kinh ngạc. Maria nói: “Từ nay muôn thế hệ sẽ gọi tôi diễm phúc”.
Những hình ảnh cổ nhất diễn tả việc Chúa Giêsu biến hình có từ thế kỷ thứ Sáu được tìm thấy trong tu viện St. Catharine ở Siani, đã diễn tả những gì mà thánh ký Matthêu đã ghi lại trên núi. Theo truyền thống thì Chúa Giêsu đã biến hình trên núi Tabor. Đây là ngọn núi cao 575m ở cuối hướng đông của Thung Lũng Jezreel, cách Biển Galilee 18 Km.
Qua Tiên Tri Isaia, Thiên Chúa được diễn tả như một Thiên Chúa đáng yêu, giầu lòng rộng rãi, nhân ái và bao dung. Ngài luôn mời gọi mỗi người chúng ta đến với Ngài. Lời “mời” của Ngài trường hợp này mang hai nghĩa: -Sự thu hút của lời mời. Trong Isaia chúng ta tìm thấy ý nghĩa của sự thu hút ấy qua những lời: Khát nước, đói, đồ bổ, món ăn mỹ vị, bánh, sữa và rượu…
Nếu có dịp đọc tác phẩm “The Surrendered Wife” (Người Vợ Về Nguồn) của Laura Doyle [1], thì cũng giống như phần lớn các độc giả, bạn sẽ bị thu hút vào một cuộc tranh chấp nội tâm: tán thành hoặc phản đối nội dung và triết lý được tác giả trình bày trong đó.
Trong khi cao trào về nam nữ bình quyền, về nữ quyền đang được đề cao mà có ai đó nói rằng đã đến lúc chị em phụ nữ cần dừng lại để xem xét lại những gì mình đã làm,
Trong thế giới tự do hiện nay, con người xem như muốn giành lấy quyền làm chủ đời mình. Họ muốn biết lành, biết dữ. Với trào lưu tư tưởng không ngừng phản ảnh đến suy nghĩ và hành động. Thêm vào đó, được tiếp tay bởi truyền thông, sự lạm dụng và khuynh loát của giới chính trị, các chủ thuyết tự do của xã hội, và sự suy sụp về luân lý, đạo đức, những phong trào đồng tính, hôn nhân đồng tính và chuyển giới ngày một trở nên thách đố hệ thống luân lý, luật pháp, trật tự xã hội, đạo đức xã hội và cả Thiên Chúa nữa.
Phải bắt đầu dạy đứa trẻ 20 năm trước khi nó chào đời”. Câu nói này được cho là của Napoleon, nhưng quan niệm về tâm lý giáo dục thì cho rằng đứa trẻ không chỉ “sẵn sàng để học”, mà nó đã thực sự học ngay vừa khi chào đời.
Thời gian gần đây thỉnh thoảng tôi vẫn nhận được những cuộc gọi nhờ giúp đỡ hoặc hỏi ý kiến qua điện thoại. Phần lớn những thắc mắc đều quy về hai điểm chính: Hôn nhân và giáo dục con cái.
Tâm lý nhàm chán cho chúng ta lý do để “xét lại”. Theo tâm lý này, người ta có trăm ngàn lý do để đến với nhau, và cũng có trăm ngàn lý do để xa nhau. Một khi tình yêu đã ra nhạt nhẽo, hững hờ, người ta sẽ cảm thấy hối tiếc, thấy phàn nàn, và muốn “thay đổi”. Và hậu quả là đem đến những cám dỗ về ngoại tình, nhất là những lúc “cơm không lành, canh không ngọt”. Như Nguyễn Ánh 9, Hồ Dzếnh cũng có một cái nhìn bi quan về một tình yêu chung thủy, hay đúng hơn một sự mơ mộng về cái thuở còn yêu nhau, theo đuổi và tán tỉnh nhau:
“Nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò”. Câu nói này hầu như ai cũng đã nghe và đã biết về ý nghĩa của nó. Tuổi trẻ mà không chút phá phách, nghịch ngợm không phải là tuổi trẻ. Nhưng lưu manh, côn đồ, du đãng, và bắt nạt lẫn nhau thì đó là những hành động không thể chấp nhận. Hậu quả của nó còn để lại một hiện tượng xã hội tồi tệ sau này, đó là: “Cá lớn nuốt cá bé!”
Một trong những cái làm căng thẳng nhất đối với một đứa trẻ là sức ép từ bạn bè “peer pressure”. Ai cũng có kinh nghiệm này khi còn là một trẻ em cắp sách đến trường, đặc biệt ở tuổi vị thành niên, và cả sau này khi đã bước chân vào cuộc sống với những giao tiếp xã hội.
Thánh Giuse, Cha Nuôi Đức Kitô. Ngài đã sinh sống và nuôi vợ con với đôi tay và sức lao động của chính mình bằng nghề thợ mộc. Chúa Giêsu lớn lên cũng theo nghề của dưỡng phụ ngài, và đã trở thành một anh thợ mộc: “Đây không phải là ông thợ mộc sao? Không phải là con bà Maria và anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao? Chị em của ông không ở đây với chúng ta sao? Và họ xúc phạm đến Ngài” (Marcô 6:3).
Dù chỉ là một người thợ mộc bình dân, âm thầm, và nghèo nàn, nhưng theo huyết thống, Thánh Giuse thuộc hoàng tộc David. Ở vào thời ngài, dòng dõi David tuy không còn lừng lẫy như xưa, Thánh Giuse vẫn cho thấy ngài là người có tâm hồn cao thượng và thánh thiện. Thánh Kinh kể lại sau khi kết hôn với Maria, do nhận ra Maria có thai, nhưng vì “là người công chính và không muốn công khai tố cáo người bạn mình” (Matthêu 1:19), nên Thánh Giuse đã định tâm lìa bỏ Maria một cách kín đáo. Hành động của ngài đã khiến Thiên Đàng phải can thiệp. Thiên thần Chúa đã được sai đến và cho ngài hay con trẻ đó là Con Thiên Chúa, và Con Thiên Chúa đây được hoài thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần.
“Người Do-thái liền xầm xì phản đối, bởi vì Đức Giê-su đã nói: “Tôi là bánh từ trời xuống.” Họ nói: “Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: “Tôi từ trời xuống?” Đức Giê-su bảo họ: “Các ông đừng có xầm xì với nhau! Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy, và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết. Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ: Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi. Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha. Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”
“Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời” (Khải Huyền 1:17-18). *
Chúng ta vừa nghe những lời an ủi này trong Bài Đọc Thứ Hai trích từ sách Khải Huyền. Những lời mời gọi chúng ta hướng tầm nhìn vào Chúa Kitô, để cảm nghiệm sự hiện diện bảo đảm của Ngài. Đối với mỗi người, trong bất cứ điều kiện nào, dù cho là phức tạp và bi đát nhất, Đấng Phục Sinh đều lập lại: “Đừng sợ, Ta đã chết trên Thập Giá nhưng nay Ta sống đến muôn đời”, “Ta là đấng trước hết và sau hết, và là đấng hằng sống.”
Theo trình thuật của thánh sử Luca (Lc 24,13-35), hôm đó trên đường từ Giêrusalem về Emmaus có ba người lữ hành. Họ đi bên nhau, chia sẻ những suy tư của mình về một biến cố, theo họ, rất quan trọng và có ảnh hưởng đến không chỉ riêng họ mà còn cả toàn dân Israel nữa. Ba người gồm một người được ghi rõ tên, một người không ghi rõ tên, và một người sau cuối ngày danh tính mới được biết đến. Đây cũng là người, là nhân vật chính trong câu chuyện mà cả ba đã trao đổi suốt dọc đường.
Anh chị em thân mến,
Đây là thời khắc mà tôi đã từng mong đợi. Tôi đã đứng trước Khăn Liệm Thánh trong nhiều trường hợp khác nhau, nhưng lúc này, qua cuộc Hành Hương này và giây phút này tôi đang cảm nghiệm về nó bằng một cường độ đặc biệt: Có lẽ vì trong những năm vừa qua đã cho tôi cảm nhận nhiều hơn đối với thông điệp của Hình Ảnh phi thường này. Và trên tất cả, tôi có thể nói bởi vì giờ này, tôi ở đây như Đấng Kế Vị của Phêrô, và tôi mang trong tim tôi toàn thể Giáo Hội, đúng ra, toàn thể nhân loại.
Các nhà chú giải Thánh Kinh đã đếm được 365 lần câu “đừng sợ” (don’t be afraid) trong Kinh Thánh. Nếu một năm 365 ngày chia đều cho 365 lần nhắc nhở “đừng sợ”, thì ít nhất mỗi ngày một lần, Thánh Kinh nhắc bảo con người rằng “đừng sợ!” Vậy, con người sợ cái gì? Và tại sao Thiên Chúa lại phải trấn an con người như vậy? [1]
Thế gian này là một “vũng lệ sầu” như lời trong kinh Lạy Nữ Vương, vì thế cuộc lữ hành đi về vĩnh hằng của con người chính là một hành trình gặp phải rất nhiều sự sợ hãi. Trước hết, con người phải đối diện với những sợ hãi do ma quỷ là loài thần thiêng, nhưng luôn luôn ghen tỵ và tìm mọi cách để làm hại con người.
Tuần Thánh (Holy Week), tiếng Latin là Hebdomas Sancta hay Hebdomas Maior. Tuần lễ trọng đại này đối với người Kitô Giáo là tuần trước Phục Sinh. Theo Tây Phương, nó bắt đầu bằng tuần lễ sau cùng của Mùa Chay, bao gồm Chúa Nhật Lễ Lá, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Sáu và Thứ Bẩy tuần Thánh.
Thế là Giêsu người thành Nagiarét đã “mồ yên mả đẹp”.
Vâng! Hỡi Giêsu. Xin hãy yên nghỉ và quên đi những vất vả sau ba năm truyền giảng Tin Mừng. Quên đi những roi đòn làm tan nát tấm thân. Quên đi mão gai. Quên đi những tiếng la ó đòi kết án. Quên đi bản án bất công. Quên đi thánh giá nặng trên vai. Quên đi những tiếng búa chát chúa làm xuyên thấu tay chân bằng những chiếc đinh dài và nhọn nhưng rất vô tình. Quên đi cơn hấp hối kinh hoàng tưởng chừng “Cha nỡ bỏ con.” (Mt 27:46) Quên đi đồi Golgotha loang máu. Và Giêsu ơi! Xin hãy ngủ yên.
Có khi nào chúng ta đã tự đặt mình vào số những người vây quanh Chúa Giêsu mỗi khi Ngài rao giảng không? Và thái độ của chúng ta lúc đó như thế nào: Hăm hở nghe lời Ngài, suy tôn và thần tượng Ngài về những lời giảng dạy khôn ngoan; hoặc ngược lại, cảm thấy chói tai, mỉa mai Ngài rồi bỏ đi?